In bài này

Đồ hình phản chiếu nội tạng

 

      Đồ hình Phản chiếu nội tạng trên trán
 
Đồ hình phản chiếu nội tạng trên mặt
TRÊN MẶT NỘI TẠNG
1-   Đầu mũi đến Sơn căn
2-   Vùng dưới ngọa tàm (mí mắt dưới)
3-   Vùng dưới khu vực vừa nêu trên (phổi):
Mép phải, dưới xương gò má bên mặt
4-   Cũng vùng trên nhưng bên trái
5-   Bờ môi trên
6-   Viền trắng quanh môi trên và phần
dưới của bờ môi dưới .
7-   Chỗ lồi nhất của ụ cằm xuống chót cằm
8-   Từ phần khóe trở lên đụng đường ngang
qua giữa Nhân trung
9-   Từ nếp nhăn mũi má chéo xuống dưới
xương gò má (giữa rãnh Nhân trung)
  10-Sống mũi
1.Tim, động mạch phổi
2.Phổi
3.Gan – Mật
 
4.Dạ dày, lách
5.Dạ dày, lá mía (tụy tạng)
6.Ruột non
 
7.Tử cung, noãn sào, bọng đái
8.Thận – tuyến thượng thận
9.Bờ sườn
10.Xương ức – Thực quản, khí quản

 

 
 
Đồ hình phản chiếu nội tạng và hai bàn chân
Đồ hình phản chiếu nội tạng và hai bàn tay
 
 
Đồ hình phản chiếu nội tạng và hai lỗ tai Đồ hình phản chiếu não bộ

  Đồ hình phản chiếu não bộ

  1. Hai bên trán
  2. Vùng sơn căn - ấn đường
  3. Vùng trên ấn đường
        4.Sống mũi
  1. Bán cầu đại não
  2. Thân não, tiểu não
  3. Não trung gian
  4. Tủy sống

 


Đồ hình phản chiếu hệ thống sinh dục nam


Đồ hình phản chiếu hệ thống sinh dục nữ

Đổ hình phản chiếu Hệ thống sinh dục nam

  1. Ống dẫn tiểu
  2. Bàng quang
         3.Bộ phận sinh dục
Viền lông mày
2. Ổ mắt
3. Nguyên lỗ mũi

Đồ hình phản chiếu Hệ thống sinh dục nữ

  1. Vòi trứng
  2. Buồng trứng
  3. Đáy tử cung
  4. Tử cung
        5.Âm hộ
1.     Lông mày
2.     Ổ mắt
3.     Giữa hai lông mày
4.     Sống mũi
   5. Lỗ mũi

 

 
 
Đồ hình phản chiếu Tim
Đồ hình phản chiếuThái Cực Âm Dương trên mặt
"Thực hành Diện Chẩn Điều Kiển liệu pháp"
GS.TS Bùi Quốc Châu - DienChan.com
In bài này

Đồ hình phản chiếu Ngoại vi

Hệ thống đồ hình phản chiếu các bộ phận ngoại vi cơ thể và các nội tạng lên gương mặt là cơ sở chẩn trị căn bản của phương pháp Diện Chẩn. Qua đó ta có thể sử dụng các dụng cụ diện chẩn để tác động lên các bộ huyệt, tương ứng với các bộ phận phản chiếu trên gương mặt nhằm chữa trị các bệnh chứng tại các bộ phận ngoại vi và cơ quan nội tạng này.

            Nhìn trên đồ hình ta sẽ thấy trên gương mặt sẽ phản chiếu rât nhiều các bộ phận khác nhau từ bên ngoài như tay chân, đầu, thân hình… cho đến các cơ quan bên trong như ngũ tạng lục phủ…Như vậy, khi tác động lên một khu vực là ta đã tác động lên nhiều cơ quan khác nhau, nhưng chỉ có các cơ quan đang có bệnh, đang có những vấn đề không ổn định mới chịu ảnh hưởng của sự tác động này. Đây là một yếu tố độc đáo của phương pháp Diện Chẩn. Điều đó có nghĩa là chỉ bộ phận đau, được tác động đúng mới có hiệu quả, còn bộ phận không đau hay tác động không đúng sẽ không có hiệu quả cũng như bất cứ phản ứng phụ nào, đây cũng là tính an toàn của phương pháp.

 Đồ hình phản chiếu ngoại vi cơ thể Nam & Nữ trên mặt

Đồ hình phản chiếu ngoại vi cơ thể Nam & Nữ trên mặt 

TRÊN MẶT

CƠ THỂ

Đồ hình Âm: hình người đàn bà ( màu xanh)

          Khu vực giữa mí tóc trán

1-     Khu  vực nằm hai bên vùng giữa trán

2-     Đoạn từ giữa trán đên khu vực giữa hai đầu mày (Ấn đường)

3-     Đoạn từ ấn đường đến Sơn căn (chỗ thấp nhất sống mũi giữa 2 đâu mắt)

4-     Sơn căn

5-     Khu vưc sống mũi sát với sơn căn

6-     Chỗ hõm dưới cung gò má (vùng huyệt hạ quan)

7-     Hai gò má /(2 vú)

8-     Đoạn từ hõm dưới cung gò má chéo 45 độ xuống dưới và ra trước đến ngang dái tai thẳng ra đến viền mũi và chay dài theo nếp nhăn mũi má đên khỏi khóe miệng  độ 1cm

9-     Nhân trung

10-  Hai bên nhân trung

11-  Viền mũi

12-  Vùng từ đầu trên mũi xuống bờ môi trên kéo dài ra đến đầu xương quai hàm (nơi huyệt giáp xa)

13-  Từ huyệt giáp xa chéo 45 độ xuống dưới và ra trước đến bờ dưới xương hàm dưới

 14-  Dọc theo bờ dưới xương hàm dưới đến cằm

 

Đỉnh đầu

Hai mắt

Mũi

 

Nhân trung

 Môi, miệng, lưỡi

Cằm

Khớp vai

 Hai vú

 

Cánh tay, cùi chỏ

 

   Âm hộ (âm đạo-tử cung)

Noãn sào

Háng

Vùng đùi gối

 

 Vùng đầu gối và cẳng chân

 Các ngón chân: ngón cái về phía quai hàm, ngón út về phía quai hàm

Đồ hình Dương: hình người đàn ông ( màu đỏ)

1-     Giữa trán

2-     Phần trên ấn đường

3-     Hai chân mày và gờ cung mày

4-     Đầu mày

5-     Góc nhọn của chân mày

6-     Chỗ hõm dưới gờ chân mày

7-  Từ cuối chân mày ra thái dương và theo viền tóc mai xuống đến ngang đỉnh xương  má

8-     Sống mũi ( là cột sống)

9-     Cánh mũi

10-  Đầu trên rãnh Nhân trung

 11-  Nhân trung

 12-  Hai bên Nhân trung

13-  Từ viền mũi qua bờ môi trên

14-  Khóe miệng và  khu vực bọng má

15-  Từ bọng má chéo xuống cằm

16-  Bờ cong ụ cằm

17-Từ chóp cằm trở ra theo bờ dưới xương hàm xương hàm dưới

Đỉnh đầu

Chẩm và cổ gáy

Hai cánh tay

Khớp vai

Cùi chỏ

Cổ tay

Bàn tay (úp xuống) và các ngón cái ở thái dương, ngón út ở ngang đỉnh xương gò mũi

cột sống (sống lưng)

Mông

Hậu môn

 Dương vật

 Dịch hoàn

Háng-đùi

Nhượng chân và gối

Cẳng chân, cổ chân, bàn chân, ngón chân

Gót chân

Các ngón đầu ngón chân

 

 

   
Đồ hình phản chiếu bàn tay mở Đồ hình phản chiếu bàn tay nắm
   
Đồ hình phản chiếu bàn chân Đồ hình phản chiếu hai lỗ tai
 
 
   
Đồ hình phản chiếu
Tay, chân, mắt, mũi, lưỡi
Đồ hình phản chiếu
Ngoại vi cơ thể trên da đầu
Đồ hình phản chiếu tay – chân – mắt – mũi
1.Mông – vai
2. Khuỷu tay 
3. Bàn tay
4. Mắt
5. Mũi
6. Miệng
7. Lưỡi
8. Khí quản – thực quản
1. Vùng giữa trán và trên trán
2. Vùng trên thái dương
3. Vùng thái dương
4. vùng dưới thái dương
5. Phía trước thái dương
6. Phía dái tai, bọng má
7. Khu vực dái tai, bọng má
8. Vùng bọng má.
Đồ hình phản chiếu ngoại vi cơ thể trên da đầu
  1. Đầu, cổ
  2. Hai cánh tay
  3. Thân mình
  4. Hai bàn chân
  1. Vùng trên trán
  2. Vùng sau thái dương
  3. Dọc theo đỉnh đầu
       4.Phần sau đầu
 
 
 
Đồ hình Rodin Đồ hình phản chiếu cơ thể nhìn nghiêng
 Đồ hình Rodin
  1. Cổ gáy
  2. Cánh tay
  3. Cổ tay – bàn tay
  4. Sống lưng
  5. Cẳng chân
  6. Bàn chân
  1. Vùng bán bình tai
  2. Vùng giữa tai và mắt
  3. Vùng khóe mắt
  4. Sát vành tai
  5. Vùng má 
  6. Vùng cằm
Đồ hình phản chiếu cơ thể nhìn nghiêng
  1. Đầu
  2. Hai cánh tay – bàn tay
  3. Lưng
  4. Đùi – cẳng chân
  5. Bàn chân
  1. Trán
  2. Hai lông mày – khóe mắt
  3. Sống mũi
  4. Hai mép
  5. Vùng cằm
 
"Thực hành Diện Chẩn Điều Kiển liệu pháp"
GS.TS Bùi Quốc Châu - DienChan.com
In bài này

Lịch sử phương pháp Diện Chẩn

           Trong lịch sử Y học Thế giới đã có một số phương pháp tương tự với DIỆN CHẨN – ĐIỀU KHIỂN LIỆU PHÁP(FACY) nếu xét qua về mặt hình thức – vì nó dựa trên nguyên tắc phóng chiếu (Projection) – trong khi FACY dựa trên nguyên tắc PHẢN CHIẾU (REFLECTION) là một hình thức tương tự PHÓNG CHIẾU NHƯNG ĐA CHIỀU (MULTI - DIRECTION) TRONG KHI PHẢN CHIẾU CHỈ CÓ MỘT CHIỀU TRÊN MỘT MẶT PHẲNG DUY NHẤT. PHẢN CHIẾU (REFLECTION) CÓ THỂ GỌI LÀ PHẢN XẠ NHIỀU CHIỀU VÀ ĐA HỆ (MULTISYSTEM). DO ĐÓ NÓ CŨNG KHÁC PHẢN XẠ CỔ ĐIỂN LÀ PHẢN XẠ ĐƠN HỆ.

          Các phương pháp đó là Vọng chẩn của Đông Y cổ truyền (Médecine Traditionnelle Orientale). Nhãn chẩn (L’Iriscopie) của Ignas Peczely (1980) phương pháp kích thích vùng bên trong mũi để trị bệnh (Réflexothérapie endonasale) của Bonnier (1930), cũng như của Asuero (1931), Diện châm (Faciopuncture), Tỵ châm (Nasopuncture) của Trung Y (Médecine Chinoise), Nhĩ châm (Ariculothérapie) của P.Nogier, thủ châm (Manopuncture) và túc châm (Podopuncture). Mỗi phương pháp trên đều có hình chiếu hoặc nhũng điểm tương ứng với các bộ phận của cơ thể, dùng để chuẩn đoán hay trị bệnh.
          Trong khi đó, Diện Chẩn – Điều Khiển Liệu pháp ( DC – ĐKLP -Réflexologie faciale) là một phương pháp do GS.TSKH Bùi Quốc Châu tìm tòi và xây dựng nên cách đây 13 năm (từ đầu năm 1980 tại Thành Phố Hồ Chí Minh). với xuất phát điểm từ những kinh nghiệm dân gian Việt Nam, từ nền văn hóa triết học đông phương, trong đó có ngôn ngữ Việt Nam, văn chương bình dân Việt Nam được thể hiện qua ca dao, tục ngữ, phương ngôn và những câu nói dung tục (vulgaire) trong dân gian.
          Với niềm tin tưởng và quyết tâm, cộng với môi trường rất tốt cho việc nghiên cứu  đã giúp GS.TSKH Bùi Quốc Châu có nhiều dịp quan sát các dấu vết bất thường trên mặt các bệnh nhân  cũng như có điều kiện để châm từng mũi kim trên các huyệt ở MẶT để tìm hiểu sự liên quan giữa các điểm trên vùng MẶT với từng bộ phận của cơ thể, đồng thời đề xác minh cho các giả thuyết của mình về sau này. Qua đó tác giả  phát hiện ra những dầu mối quan hệ giữa những điểm trên MẶT và các khu vực với toàn thân. Nhưng đặc biệt là  tác giả đã nghiên cứu khám phá ra những bí ẩn của BỘ MẶT theo một hướng khác với các tác giả có những công trình tương tự trước đây (như Nhĩ châm, Đầu châm,Thủ châm, Túc châm).
          Có thể nói DIỆN CHẨN - ĐIỀU KHIỂN LIỆU PHÁP (FACY) xây dựng theo một hướng đã định trước dựa trên một phương pháp luận đã có ngay từ bước đầu. Thật vậy, những nguyên tắc tìm ra huyệt hay Đồ hình một cách chính xác và mau chóng đã được tác giả khám phá và xây dựng từ những câu nói đơn giản của cổ nhân, chủ yếu trong lãnh vực Triết học, Văn học, Ngôn ngữ học Đông phương và Việt Nam.
            “ Còn việc khám phá và vẽ ra các Đồ hình trên Mặt (và sau này trên toàn thân) tức là những vùng phản xạ được hệ thống hóa một cách nhất quán là do tôi vận dụng một trong những quy tắc cốt yếu và đồng thời cũng là quy tắc đầu tiên để khám phá và thiết lập Đồ hình. Đó là quy tắc ĐỒNG HÌNH TƯƠNG TỰ (Correspondance en même forme). Phải nói chính nhờ quy tắc này mà tôi khám phá ra nhiều Đồ hình phản chiếu một cách rất dễ dàng và nhanh chóng.
( GS.TSKH. BQC)
            Việc xác nhận giả thuyết SỐNG MŨI TƯƠNG ỨNG VỚI SỐNG LƯNG là đúng, xảy ra vào sáng ngày 26 tháng 03 năm 1980 trên bệnh nhân nghiện ma túy tên là Trần Văn Sáu tại trường Fatima, Bình Triệu. Như các trường hợp nghiện ma túy khác, bệnh nhân rất đau ở cột sống thắt lưng khi lên cơn nghiện ma túy. Thế mà chỉ sau hơn một phút kể từ khi tác giả châm một mũi kim vào đầu mũi (tương ứng với thắt lưng đang bị đau của bệnh nhân theo quy tắc CHÂM VÀO BẤT THỐNG ĐIỂM (điểm không đau) thì một sự kỳ diệu xảy ra là bệnh nhân giảm đau cột sống thắt lưng một cách rõ nét đến mức giảm đau nhiều hơn là châm vào điểm đốt sống thắt lưng ở đối vành tai theo Nhĩ châm (cũng châm vào điểm không đau) cũng để trị cơn đau cột sống thắt lưng của anh ta. Ngoài ra, còn có hiện tượng đặc biệt là có một đường dẫn truyền như kiến bò chạy từ nơi châm vòng qua đầu đến nơi đang đau ở cột sống thắt lưng ngay sau khi châm, nghĩa là điều này đã chứng minh được giả thuyết SỐNG MŨI TƯƠNG ỨNG VỚI SỐNG LƯNG) là chính xác.
            Từ những Đồ hình phản chiếu ở trên Mặt được khám phá và vẽ ra trong vòng 3 năm (từ năm 1980 đến 1983) với 22 hệ, cho đến những hệ thống Đồ hình phản chiếu trên DA ĐẦU được tìm ra năm 1988 và hệ thống phản chiếu CÁC BỘ PHẬN Ở TOÀN THÂN (năm 1989), kể cả hệ phản chiếu trên LOA TAI với nhiều Đồ hình khác nhau (tất nhiên là khác với Đồ hình Bào thai lộn ngược của BS Nogier) đều có sự đóng góp chủ yếu của thuyết ĐỒNG ỨNG. Trong phương pháp DIỆN CHẨN FACY còn có nhiều thuyết khác, như thuyết PHẢN CHIẾU, ĐỐI XỨNG, GIAO THOA, BẤT THỐNG ĐIỂM, TAM GIÁC, NƯỚC CHẢY VỀ CHỖ TRŨNG … Tất cả đều góp phần vào việc xây dựng phương pháp. Nhưng có một điều cần được nhấn mạnh ở đây là hầu hết những thuyết nền tảng của phương pháp đều được gợi ý từ những lãnh vực ngoài Y học chính thống mặc dù trong việc kiến trúc toàn bộ phương pháp đều có sự góp mặt của ba dòng Y học.
            Y học cổ truyền, Y học hiện đại và Y học Dân gian. Đây có lẽ là nét đặc thù của phương pháp DIỆN CHẨN (FACY) so với các phương pháp tương tự khác đã có trên thế giới trước đây. Vì rõ ràng từ xuất phát điểm cho đến việc tiến hành xây dựng hệ thống lý thuyết không đi theo chiều dọc thẳng từ Y học xuống mà lại đi theo chiều ngang từ các ngành Khoa Học Nhân Văn như Triết học, Văn học, Ngôn ngữ học, Tướng học … Sau đó được bổ sung bằng các chất liệu khác như điều khiển học, Hình học, Trường sinh học, Vật lý học v.v…
            Tóm lạiDIỆN CHẨN (FACY) không phải là một sản phẩm đơn thuần Y học mà là kết quả tổng hợp của nhiều ngành khác trong đó chủ yếu là văn hóa và triết học Đông phương (như Phật, Khổng, Lão, Thiền, Dịch học …) có thể nói là đứa con tinh thần của Văn hóa Việt Nam với tính TỔNG HỢP, CHIẾT TRUNG VÀ SÁNG TẠO NHUẦN NHUYỄN. Chúng tôi gọi nó là Y ĐẠO (I’TAO) hay là Y HỌC - VĂN HÓA - TRIẾT HỌC vì nó không dừng ở chỗ Y-thuật hay Y-đức, mà cái nó nhắm tới là không chỉ đem lại SỨC KHỎE CHO THÂN THỂ VÀ TINH THẦN CỦA CON NGƯỜI MÀ CÒN GIÚP MỞ MANG TÂM TRÍ (MINH TRIẾT HƠN) RỒI THÔNG QUA VIỆC CHỮA BỆNH CHO MÌNH VÀ CHO NGƯỜI MÀ DẦN DẦN ĐẠT LÝ CỦA TRỜI ĐẤT VÌ CON NGƯỜI VÀ VŨ TRỤ LÀ MỘT (THIÊN NHÂN HỢP NHẤT) CHO NÊN THẤU HIỂU MÌNH TẤT SẼ HIỂU CÁI LÝ CỦA TRỜI ĐẤT. Ngoài ra nó còn giúp mở rộng sự giao lưu văn hóa giữa các dân tộc với nhau (vì theo NHẤT NGUYÊN LUẬN, TẤT CẢ LÀ MỘT), đóng góp vào việc hình thành một nền văn hóa thế giới. Còn xét về mặt hình thức thì nó là tổng hợp của Phản xạ học, châm cứu và Xoa bóp. Tuy nhiên, có lẽ nó gần gũi với Phản xạ học nhiều hơn, nhưng là một Phản xạ học mới : PHẢN XẠ ĐA HỆ (nếu có thể gọi được như vậy để phân biệt với Phản xạ học cổ điển hay là PHẢN XẠ ĐƠN HỆ) hay còn gọi là PHẢN XẠ HỌC VIỆT NAM (Réflexologie Vietnamienne). Đây cũng là một loại NHU Y (Médecine douce) hay Y HỌC TỰ NHIÊN (Médecine naturelle) vì KHÔNG DÙNG THUỐC CŨNG KHÔNG DÙNG KIM CHÂM MÀ CHỈ DÙNG MÀ CHỈ DÙNG TAY HAY DỤNG CỤ (như : cây lăn, cây cào, búa gõ, que dò, ngải cứu, máy xung điện). Nó cũng là một hình thức của Y TẾ CỘNG ĐỒNG (La Santé Commune) vì có thể phổ biến rộng rãi cho nhiều người cùng học và làm được một cách dễ dàng và an toàn nhất là trong phạm vi chăm sóc sức khỏe ban đầu.
"Trích cuốn Thực hành Diện Chẩn Điều Kiển liệu pháp"
GS.TS Bùi Quốc Châu - DienChan.com 
In bài này

Tại sao gọi là Điều Khiển Liệu pháp ?

  Sở dĩ gọi là Điều Khiển Liệu Pháp là vì ta có thể tác động vào các huyệt đạo ở vùng mặt và một số vùng trên cơ thể bằng các kỹ thuật như ấn, day, lăn, xoa, cào... thông qua các công cụ của Diện Chẩn và sự tác động đó có khả năng điều khiển để tạo ra những hiệu ứng trên các bộ phận nội tạng và ngoại vi của cơ thể.

 Việc điều khiển gây ra những tác động cũng giống như ta điều khiển cái remote của các loại máy móc ( TV, Máy Lạnh, Quạt máy...) để khởi động hay tắt các hoạt động. Khi ta tác động lên các huyệt đạo cũng chính là việc khởi động cho quá trình điểu chỉnh trên các bộ phận của cơ thể , tạo ra những biến chuyển cho toàn bộ hệ thống sức khỏe của người bệnh.
"Trích cuốn Thực hành Diện Chẩn Điều Kiển liệu pháp"
GS.TS Bùi Quốc Châu - DienChan.com
In bài này

8 thuyết căn bản của Diện Chẩn Điều khiển Liệu pháp

  Điều Khiển Liệu Pháp là phương pháp PHÒNG và TRỊ BỊNH bằng cách tác động với nhiều hình thức khác nhau (châm, chích, lể, hơ nóng, chườm nóng, chườm lạnh, xoa, day, dán cao, bấm, ấn, vuốt, bôi dầu, xung điện, v.v…) vào những Vùng và Phạm Vi Bộ Mặt. Vì bộ mặt nằm trong phạm vi đầu não, và vì những huyệt trên mặt có tính cách điều khiển các bộ phận trong cơ thể (giúp cơ thể điều chỉnh từ cơ quan đầu não), nên phương pháp này gọi là Điều Khiển Liệu Pháp.

  Nếu xét trên lý thuyết Điều khiển và Thông Tin Sinh Vật học, thì mỗi huyệt trên Mặt là một trạm thu, phát, thông tin của cơ thể; đồng thời cũng là nơi để tự Điều Chỉnh, Xử Lý thông tin.  Có thể nói mỗi huyệt vừa là một bộ phận Nhận - Phát thông tin, vừa là một bộ phận Điều Chỉnh thông tin. 

C THUYẾT TRONG ĐIỀU KHIỂN LIỆU PHÁP 

1.Thuyết Đồng bộ thống điểm :

Khi trong cơ thể có sự bất ổn thì ngoài những triệu chứng hay cảm giác đau tại chỗ còn xuất hiện một hay nhiều chỗ đau tương ứng ( Đồng bộ thống điểm) tại vùng phản chiếu của nó trên mặt. Cảm giác đau ( thốn, cộm, mỏi, tức, nhói, tê, nhức, nóng, rát …) tại các điểm đau sẽ tỷ lệ thuận với mức độ và tình trạng của bệnh chứng ( Bệnh nặng thì đau nhiều) . Vì thế khi bệnh giảm bớt thì cảm giác đau cũng sẽ bớt.  Nhưng nên nhớ, điều này chỉ là một trong những biểu hiện của bệnh lý. 

2.Thuyết Bất thống điểm :

Theo Thuyết Bất thống điểm thì lại có tình trạng, khi một cơ quan hay bộ phận nào đau, thì tại vùng tương ứng với nó trên mặt sẽ xuất hiện một hay nhiều điểm không đau (Bất thống điểm) Những điểm không đau sẽ nằm trong vùng đau tương ứng ( phản chiếu) với bộ phận có bệnh trong cơ thể. Đôi khi tác động vào những điểm không đau lại có hiệu quả hơn là tác động vào những điểm đau .

3.Thuyết Thái Cực :

Bộ mặt con người cũng là nơi phản chiếu của thái cực theo nguyên lý : Thái cực sinh Lưỡng nghi ( Âm/Dương) – Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng ( Thiếu Dương – Thái Dương / Thiếu Ấm – Thái Âm) Bên Trên, Phải thuộc Dương. Bên dưới, Trái thuộc Âm. Từ trái sang phải, từ ngoài vào trong thuộc Dương – Từ phải sang trái, từ trong ra ngoài thuộc Âm. Chiều thẳng đứng ( Tung ) thuộc Dương, Chiều nằm ngang (hoành) thuộc Âm – Âm Dương đối xứng nhau qua một trục hay một tâm điểm trung tính ( phi Âm phi Dương) – Âm Dương vừa có tính đối kháng vừa có tính phụ trợ nhau. Trong Âm có Dương, trong Dương có Âm, Cực Dương sinh Âm, Cực Âm sinh Dương – Dương tụ, Âm tán – Âm hàm Dương : Dương tụ - Dương hàm Âm : Dương tán – Cô Dương bất sinh, độc Âm bất trưởng.

4.Thuyết Phản phục :

Tuỳ theo tình trạng bệnh lý, mỗi huyệt thích nghi với một tần số, cường độ và thời gian kích thích nhất định. Nếu vượt quá giới hạn này thì sẽ phản tác dụng hay không tác dụng.
Điều này cho thấy khi tác động bằng kỹ thuật Diện Chẩn ( với dụng cụ hay không ) cũng chỉ nên tác động đúng mức, không nhiều và cũng không ít hơn mức độ cần thiết.
Thuyết Đối xứng : Một số huyệt trên mặt có tính đối xứng : Đối xứng theo chiếu dọc (Tuyến 0 ) và đối xứng theo chiều ngang ( tuyến V và tuyến IV )
Các huyệt đối xứng có tính tương tự nhau hay đối kháng nhau, do đó có thể tăng cường hay hoá giải nhau.

5.Thuyết Đối xứng :

Một số huyệt trong cơ thể, nhất là trên mặt thường có tính đối xứng trong nhiều chiều không gian. Có 3 trục đối xứng quan trọng trên mặt :
-          Trục dọc giữa mặt ( Tuyến tung 0 )
-          Trục ngang qua hai con mắt ( Tuyến Hoành số V)
-          Trục ngang qua hai lông mày ( Tuyến Hoành số  IV)
Có hai tâm đối xứng quan trọng : Huyệt số 26 ( Chính giữa hai lông mày ) và huyệt số 19 ( Chính giữa hai lỗ mũi – bên trên nhân trung ). Những huyệt hoặc bộ phận đối xứng nhau thì có tính tương tự hoặc đối kháng nhau. Do đó có thể tăng cường hay hoá giải nhau. Ví dụ : Huyệt số 106 ( phần thấp dưới trán) đối xứng với huyệt số 8 ( giữa sống mũi dưới hai lông mày) qua huyệt số 26. Hai huyệt này có tính tương tự nhau, nhưng cũng có tính đối kháng nên có thể hoá giải nhau khi được tác động đúng lúc.

6.Thuyết Bình thông nhau :

Giữa người bệnh và người chữa bệnh có mối quan hệ tương tác, điều này có nghĩa là nếu người bệnh đau bệnh gì, thì người chữa bệnh cũng có thể bị bệnh đó ( nhất là khi người chữa bệnh lại có sức khoẻ kém hơn người bệnh ) – Vì thế cần phải cẩn trọng trong việc chữa bệnh với những bệnh mãn tính do thời gian chữa và tiếp xúc với người bệnh kéo dài.

7.Thuyết Nước chảy chỗ trũng :

Mỗi huyệt trên mặt khi bị tác động sẽ chuyển khí về nơi cơ quan hay bộ phận đang có bệnh. Bệnh càng nặng thì đường dẫn truyền ( khí ) này càng rõ nét, và khi hết bệnh thì khí không dẫn đến nữa. Vì thế, theo thuyết này thì có khi cùng một huyệt, nhưng lại dẫn khí ra các vùng khác nhau, điều này tuỳ thuộc vào bệnh nhân đang đau ở đâu.
Đường dẫn truyền khi dẫn khí sẽ tạo cảm giác rần rần như kiến bò dẫn đến cơ quan hay bộ phận đang bị bệnh. Thường thấy ở các bệnh nhân nhạy cảm khi được tác động đúng huyệt.

8.Thuyết Sinh khắc :

 Có sự sinh khắc giữa các huyệt trên mặt. Sự sinh khắc này là tương đối và phần lớn tuỳ thuộc vào chu kỳ khí lực giữa các huyệt với nhau trong một thời điểm nhất định nào đó.
Ví dụ : Huyệt 26 khắc với huyệt số 6  ( Hai huyệt này làm giảm tác dụng của nhau)
Huyệt 34 sinh huyệt 124  (2 huyệt này hỗ trợ nhau, có tác dụng tốt hơn khi đi chung với nhau ).
 Cũng có sự sinh khắc giữa các dấu hiệu chẩn đoán và tình trạng bệnh lý. Ví dụ : Bệnh nặng mà gặp chứng nấc cục hay sưng chân thì có nguy cơ tử vong. Hay vùng má thuộc Phế ( Phổi – sắc trắng ) tự nhiên hiện ra sắc hồng ( thuộc Hỏa ) thì có nghĩa là phổi đang có bệnh vì Hỏa khắc Kim. Hay gò má thuộc Tâm ( sắc đỏ ) tự nhiên có màu xanh đen (thuộc Thủy) thì tim có bệnh vì Thủykhắc Hoả.
Các thuyết trên đã tạo nên một hệ thống lý luận có cơ sở vững chắc cho phương pháp Diện Chẩn – Điều Khiển Liệu pháp, để từ đó hình thành hàng loạt các kỹ thuật thực hành dưới nhiều hình thức khác nhau : bằng tay không, bằng các công cụ bình thường và nhất là các dụng cụ đặc chế của phương pháp, do chính tác giả sáng tạo ra, đã đăng ký bản quyền sáng chế để phục vụ cho sức khỏe của con người, giúp giải quyết những vấn nạn về phương diện y tế, tạo ra một hệ thống can thiệp và tác động vào sức khỏe cộng đồng, thực hiện đúng nguyên tắc «  phòng bệnh hơn chữa bệnh » và hình thành một biện pháp trị liệu đơn giản, rẻ tiền và có thể tiến hành mọi lúc mọi nơi.
GS.TS Bùi Quốc Châu
© 01/2014 - www.dienchanviet.com