In bài này

8 chỉ định khi dùng điếu ngải cứu

CHỈ ĐỊNH VÀ CHỐNG CHỈ ĐỊNH CỨU NGẢI

I) CHỈ ĐỊNH CỨU NGẢI:

Chỉ định cứu ngải rất rộng, dựa trên tác dụng có thể quy nạp vào mấy điểm sau:
1) Các bệnh do hàn ngưng, huyết trệ, tắc nghẽn kinh lạc; như liệt do phong hàn thấp, thống kinh, bế kinh, đau bụng do lạnh v.v.

2) Ngoại cảm phong hàn biểu chứng cùng trung tiêu hư hàn: nôn, đau bụng, tiêu chảy v.v.
3) Các chứng do tỳ-thận dương hư, suy giảm nguyên khí: tiêu chảy mãn tính, lỵ mãn tính, đái dầm, di tinh, liệt dương, tảo tiết (xuất tinh sớm) v.v.
4) Khí suy, sa các cơ quan nội tạng: sa dạ dầy, thận, tử cung, trực tràng (thoát giang), chảy máu tử cung kéo dài v.v.
5) Bệnh ngoại khoa: mụn nhọt giai đoạn đầu chưa hóa mủ (có tác dụng tiêu ứ, tán kết; thải độc tả nhiệt. Nếu mụn nhọt đã vỡ, cứu ngải có tác dụng làm chóng đầy và liền miệng vết thương), bệnh tràng nhạc; các chứng đau v.v.
6) Các chứng bệnh do khí nghịch thượng xung (khắc): khí chi dưới nghịch xung (khắc) tâm, can dương vượng có thể cứu huyệt Dũng Tuyền để điều lý.
7) Phòng bệnh giữ sức khỏe.
8) Ban nhạt mầu, làm mọc tóc.

II) CHỐNG CHỈ ĐỊNH CỨU NGẢI:

Mặc dù từ cổ tới nay, rất nhiều người dùng phương pháp cứu ngải; cứu ngải giản đơn và an toàn, nhưng khi ứng dụng vẫn có những điểm cần chú ý.

Cấm kỵ về huyệt vị:
Trong cổ tịch có ghi tổng cộng 47 huyệt vị cấm cứu, các huyệt này đại đa số ở trên mặt, gần các cơ quan quan trọng hay nằm trên các mạch máu, gân, da và cơ mỏng. Vì vậy, dùng trụ ngải cứu trực tiếp dễ gây tổn thương để lại các hậu quả xấu. Ví dụ: để lại sẹo trên mặt, tổn thương ăn lan vào mạch máu. Một số huyệt ở tay và chân như Trung xung, Thiếu sang, Ẩn bạch, nếu cứu trực tiếp sẽ rất đau và dễ gây tổn thương.
Hiện nay, châm cứu lâm sàng cho rằng: Nhờ những tiến bộ của Y học hiện đại (thông qua giải phẫu học, mọi người hiểu biết rõ hơn cấu tạo cơ thể người) và những cải tiến trong cứu ngải, HẦU HẾT NHỮNG HUYỆT VỊ MÀ CỔ NHÂN GHI CHÚ LÀ CẤM CỨU THÌ ĐỀU CÓ THỂ TIẾN HÀNH ÔN HÒA CỨU (HAY CỨU ẤM). Ôn hòa cứu vừa không gây tổn thương vừa phát huy tác dụng chữa bệnh của phương cứu có từ lâu đời.

Cấm kỵ về chứng bệnh:
1) Các chứng thực nhiệt hoặc chứng nhiệt do âm hư, như: sốt cao đến mức hôn mê, huyết áp cao đến mức nguy hiểm, lao phổi giai đoạn muộn, ho ra máu lượng lớn, thiếu máu nghiêm trọng, bệnh truyền nhiễm giai đoạn cấp.
2) Bệnh tim thực thể có suy tim; bệnh tâm thần phân liệt.
3) Phụ nữ có thai hoặc hành kinh thì không cứu những huyệt vùng bụng, thắt lưng và dưới thắt lưng; không cứu núm vú, âm hộ.

Cấm kỵ tạm thời:
Không cứu lúc người bệnh quá đói, quá no; sau khi uống rượu; rất khát nước, người ra mồ hôi nhiều; người trong tình trạng kích động, quá mệt.

Người biên dịch: BS Lâm Hữu Hòa từ trang http://www.aijiubaike.com/article-120-1.html 
(903 650 9494)

 

 

 

Thêm ý kiến