In bài này

Tư liệu -23- Bộ Điều Hòa

 Tạ Minh.

             Cơ thể như một cơ quan, xí nghiệp. Một cơ quan có đầy đủ các nhân viên phòng ban, nhưng nếu họ không hòa thuận mà bất hợp tác thì cơ quan này không thực hiện được chức năng, công việc đình trệ. Cơ thể cũng vậy, nhiều khi bịnh nhân thấy có bệnh mà các hệ thống cơ quan không hề có vấn đề gì. Trường hợp này nếu cố chữa, đôi khi lại gây thêm bệnh cho bịnh nhân.
            Trong cơ quan muốn mọi việc trôi chảy, cần hòa giải mọi người với nhau, không cần khiển trách hay đổi thay nhân sự nào. Cơ thể cũng vậy, không thể trách cơ quan bộ phận nào mà chỉ nên tạo sự liên kết giữa chúng với nhau là được.
            Tôi xin giới thiệu BỘ ĐIỀU HÒA có thể thực hiện ý định này.
I/-        PHÁC ĐỒ - KỸ THUẬT
-                    34, 290, 156, 39, 19, 50, 3, 36.
-                    106, 1, 127, 39, 19, 50, 3, 36.
Phác đồ Diện Chẩn Tạ Minh - Bộ điều hòa
            Dò huyệt theo từng phác đồ, phác đồ nào có nhiều huyệt báo đau hơn thì dùng phác đồ đó, day bằng vaseline chừng 30 cái nhè nhẹ mỗi huyệt theo thứ tự. Cũng có thể dán cao, tùy trường hợp mà dùng.
II/-       CHỈ ĐỊNH
            Thông thường những trường hợp sau đây nên dùng Bộ Điều hòa:
-                    Cơ thể mất quân bình nhẹ, rối loạn chức năng nhẹ, bịnh nhân cảm thấy không thoải mái nhưng không có hiện tượng bệnh rõ ràng. Như ăn ngủ lúc được lúc không, người lúc mệt lúc khỏe…
-                    Thân nhiệt bịnh nhân không điều hòa nhẹ: trên dưới-trước sau-trong ngoài, nóng lạnh không đều nhẹ. Tương tự chứng tâm thận bất giao nhưng rất nhẹ.
-                    Một số trường hợp tăng huyết áp nhất là huyết áp vô căn.
-                    Triệu chứng có rất nhiều, không thể kể hết. Chỉ cần nhớ “bệnh mà hình như không phải bệnh”, “bệnh lúc có lúc không”, “bệnh giả đò” là được.
III/-     KẾT LUẬN
            Ưu điểm của bộ huyệt này là rất an toàn. Hầu như không gây sốc cho bất cứ ai. Nên dùng khi gặp những trường hợp phức tạp không chẩn đoán ra bệnh thuộc khía cạnh nào trong Bát cương. Sau khi dùng một thời gian, triệu chứng sẽ định hình dần lúc ấy ta chẩn đoán lại và định hướng điều trị lại cho phù hợp.
            Yếu điểm của bộ huyệt này là rất kém khi điều trị những bệnh rõ ràng trong lãnh vực Bát cương, hoặc những bệnh có đau nhức.
TP. Hồ Chí Minh, 7-1-1989.
In bài này

Tư liệu -22- Bộ Thiếu Dương

 Tạ Minh.

 I/-        PHÁC ĐỒ
            324, 131, 41 (437), 235, 290, 184, 34, 156.
II/-       KỸ THUẬT
            Trước hết cần chẩn đoán bệnh thuộc hàn hay nhiệt rồi điều trị mới có kết quả (xem lại bài “Chẩn đoán hàn nhiệt bằng huyệt Diện Chẩn”).
-                    Bệnh thuộc hàn: day dầu theo thứ tự trên, mỗi huyệt 30 cái, dán cao salonpas nếu được. Nếu không đạt hiệu quả cao (giảm đau từ 3/10 trở lên ngay tại chỗ) thì nên dùng ngải cứu hơ nóng mỗi huyệt 3 lần có bôi dầu.
-                    Bệnh thuộc nhiệt: hiệu quả cao nhất là áp lạnh (khó làm nếu chưa kinh nghiệm). Châm bằng kim cũng rất mạnh. Nếu không biết châm hoặc bệnh nhân không thích châm có thể day ấn bằng vaseline mỗi huyệt 30 cái, ba vòng cho một lần điều trị, giải pháp này hiệu quả kém hơn. Có thể rung mỗi huyệt 10 giây.
III/-     TÁC DỤNG, CHỦ TRỊ
            Bộ THIẾU DƯƠNG này chuyên hòa giải kinh khí Thiếu Dương.
            Có thể dùng trong các bệnh: nhức nửa đầu (migrain, thiên đầu thống); tăng nhãn áp (glaucome, cườm nước), hàn nhiệt vãng lai (lúc nóng lúc lạnh); sốt rét (chỉ giúp hạ cơn, không phải điều trị) ; uất ức tâm lý (tức giận nhưng không phát tiết được, một dạng stress); một số rối loạn chức năng gan mật.
IV/-     KINH NGHIỆM LÂM SÀNG
-                    Trường hợp hiệu quả kém trong nhức đầu có thể thêm 12, 240, 107.
-                    Nếu có tăng nhãn áp thêm 16, 199. Tuy nhiên đây là một bệnh nguy hiểm vì có thể gây mù lòa khi không chữa được nên nếu không vững vàng thì không nên trị. Bệnh này sẽ được trình bày chi tiết trong mục “Bệnh mắt” ở cuối sách.
-                    Trường hợp stress, nếu hiệu quả kém có thể thêm 124, 34, 106, 173 hoặc 143, 3 -.
-                    Rối loạn gan mật cần xác định sinh huyệt vùng gan mật.
-                    Nếu nhức đầu do dị dạng mạch máu não, biết được qua chụp CT hoặc MRI, chỉ giảm đau chứ không trị khỏi được. Khuyên bệnh nhân theo chỉ định của bệnh viện để giải phẫu khi cần. Vì đây cũng là một loại bệnh chứng nguy hiểm cho sức khỏe của bệnh nhân.
Chú ý: vị trí huyệt 131 chính xác ở giữa tuyến L và khóe mắt ngoài, nó chính là huyệt Ngư Vỹ trong Thể Châm, nay được thay bằng huyệt 24 trong hình huyệt ấn bản 2003 của thầy Châu. Huyệt 199 ở giữa huyệt 197 và 421.
In bài này

Tư liệu -21-Bổ Trung

  Tạ Minh.

 I/-        PHÁC ĐỒ
            127, 7 - +, 50, 19, 37, 1, 0 - +.
Bổ trung
Bộ Bổ Trung
II/-       KỸ THUẬT
            Day vaseline, gõ, day dầu hoặc dán cao hoặc hơ nóng xức dầu. Tùy tình hình tổng trạng của bệnh nhân mà chọn kỹ thuật thích hợp.
III/-     TÁC DỤNG CHỦ TRỊ
            Bổ trung tiêu, bổ nguyên khí ở cấp độ nhẹ, trợ tiêu hóa, tăng sức đề kháng, tăng lực nhẹ đến vừa phải. Hỗ trợ trong việc trị mọi bệnh chứng có hư suy. Có thể dùng bồi bổ cho các trường hợp suy nhược cơ thể nhẹ chưa ảnh hưởng đến phần âm huyết (đây là bộ huyệt tiền đề cho bộ BỔ ÂM HUYẾT sau này).
IV/-     KINH NGHIỆM LÂM SÀNG
            Có một số trường hợp bệnh nhân bị khí huyết lưỡng suy, hoặc âm dương lưỡng suy ta không thể dùng bộ THĂNG vì có thể làm lệch quân bình. Trường hợp này nên dùng bộ BỔ TRUNG ở bàn chân, phối hợp với BỔ ÂM HUYẾT ở mặt để bổ dương – khí và huyết chầm chậm vì lúc này sức chịu đựng của bệnh nhân rất kém, không thể bổ nhanh được. Bộ huyệt này cũng thuộc loại an toàn nếu chỉ dùng day vaseline, nhưng không nên dùng trong trường hợp có huyết áp cao dương chứng.
            Khi cần bổ Tỳ ta đưa huyệt số 7 - + về cuối của phác đồ (sau huyệt 0).
In bài này

Tư liệu -20- Bộ Giáng

 Tạ Minh.

             Khái quát thì bộ Giáng có tính chất ngược lại với bộ Thăng. Tầm ứng dụng không rộng rãi như bộ Thăng và thuộc khía cạnh gần như đối lập.
Phác đồ Diện Chẩn Tạ Minh - Bộ giáng
I/-        PHÁC ĐỒ – KỸ THUẬT
124 + -, 106, 34 + -, 26, 61 + -, 3 + -, 143, 39, 14 + -, 222 + -, 85 + -, 156 + -, 87.
            Không phải lúc nào cũng dùng trọn tất cả các huyệt nêu trên. Phải dò sinh huyệt để dùng cho thích ứng với tình hình bịnh. Có khi phải tùy theo tổng trạng của bịnh nhân mà chọn lọc lại, chỉ dùng một số trong số các sinh huyệt được tìm thấy chứ không dùng tất cả các sinh huyệt.
            Dò và tác động huyệt theo thứ tự nêu trên. Đối với các huyệt kép thì tác động huyệt bên phải trước, bên trái sau (của người bịnh).
            Kỹ thuật an toàn và thích hợp nhất là dùng kỹ thuật rung huyệt, hoặc dùng lăn và que dò để ấn day hoặc quẹt vào huyệt bằng vaseline hoặc các loại dầu nhờn vô hại như dầu ăn hoặc kem dưỡng da. Cũng có thể day thật nhẹ phơn phớt không cần vaseline vào mặt da ở những người trẻ tuổi, da không quá khô.
            Nếu sốt cao nên dùng nước đá áp vào huyệt, mỗi huyệt một phút để cắt cơn sốt.
II/-       TÁC DỤNG
            Các tác dụng chính:
-                    Giáng khí: tác dụng cao trong trường hợp thực nhiệt.
-                    Hạ nhiệt: tính hạ nhiệt khá mạnh khi dùng trọn bộ.
-                    An thần: tính an thần rõ nét.
-                    Tiêu viêm: chỉ có tính hỗ trợ, vì tính tiêu viêm của nó không mạnh bằng một số phác đồ khác.
III/-     CHỦ TRỊ
            Bộ GIÁNG là phác đồ chủ lực trị các bịnh thuộc THỰC NHIỆT. Trong lãnh vực hư nhiệt thì chỉ được dùng khi cần đối phó tạm thời với triệu chứng (khó dùng vì cần vững y lý Đông y và phải kỹ lưỡng), không dùng trong điều trị lâu dài.
            Nên dùng cho các trường hợp sau: Các chứng sốt do nhiễm phải khí nóng đều cần dùng BỘ GIÁNG. Trước hết nó hạ sốt cho bịnh nhân, đề phòng chứng kinh giật do sốt cao – sau đó sẽ tìm nguyên nhân gây bịnh để điều trị tận gốc. Một số bịnh thường gặp: trúng nắng, sốt do nhiễm trùng dĩ nhiên chỉ để giảm sốt còn diệt trùng thì nên dùng kháng sinh, sốt không rõ nguyên nhân (với điều kiện chân không lạnh).
            Qua tính an thần, giáng khí, hạ nhiệt, bộ GIÁNG được dùng cắt cơn tăng Huyết áp DƯƠNG CHỨNG, với các triệu chứng sau: mạch vùng Thái dương (màng tang) nổi cộm, mạch cổ tay thuộc dạng Kiên, Hoạt, Thực, chân không lạnh, mặt mắt có thể đỏ; đo huyết áp thấy kim đồng hồ giật mạnh, tiếng ở ống nghe đập lớn, hai huyệt 26 và 15 có thể 143 rất đau. Trường hợp này nên day huyệt 15 trước khi dùng BỘ GIÁNG.
            Ngoài ra có thể dùng trong những trường hợp suyễn thực nhiệt. Trường hợp uất nhiệt bên trong tạng phủ như Vị, Tỳ, Can…v.v.. Những trường hợp mất ngủ do hưng phấn, lo lắng suy nghĩ nhiều làm mất ngủ (chỉ có giá trị khi thể trạng bịnh nhân chưa suy yếu). Những trường hợp thần kinh chức năng của một cơ quan hưng phấn gây xáo trộn sinh lý cơ quan, tạng phủ.
            Lãnh vực ứng dụng của BỘ GIÁNG khá rộng nhưng tốt nhất vẫn là dùng để trị các bịnh THỰC NHIỆT.
IV/-     CHỐNG CHỈ ĐỊNH
            Thực tế cho thấy BỘ GIÁNG chỉ có tính tả chứ không có tính bổ. Do đó không dùng bộ Giáng trong các chứng hư nhiệt (những triệu chứng nóng âm ỉ, nóng sau buổi trưa ở người bịnh suy nhược), những người bịnh mất ngủ lâu ngày, ăn uống kém, gầy yếu xanh xao.
V/-       ỨNG BIẾN LÂM SÀNG
1)                  Cắt cơn sốt bằng nước đá áp vào huyệt. Ở đây chỉ cần dùng các huyệt sau đây theo thứ tự: 26, 3, 143 hay 173, 87. Với các cục nước đá chừng bằng đầu ngón tay cái, áp mỗi huyệt chừng một phút rồi đổi sang huyệt khác cho đến khi hết sốt.
2)                  Một số trường hợp bịnh tâm thần mới phát thuộc chứng cuồng trong Đông y, các chứng trúng nắng. Nên ứng biến như sau: chỉ dùng các huyệt sau đây theo thứ tự 124 -, 106, 34 -, 26, 61 -, 3 -, 143, 39, 14 -, 222 -, 85 -, 87.
Có thể tùy nghi sử dụng các kỹ thuật áp lạnh, day bằng vaseline hoặc châm kim. Biện pháp này cũng dùng được trong trường hợp sốt cao do viêm nhiễm cấp (với điều kiện chân không lạnh).
VI/-     KẾT LUẬN
            Bộ GIÁNG hữu hiệu trong các chứng nhiệt dù ở biểu hay ở lý. Nhưng chỉ có tính TẢ CHỨ KHÔNG BỔ. Cẩn thận trong khi sử dụng để không hại nguyên khí của bịnh nhân.
TP. Hồ Chí Minh, 9-12-1998.
In bài này

Tư liệu -19- Bộ Thăng

  Tạ Minh.

             Thăng và giáng là hai thủ pháp thường gặp trong y học cổ truyền. Chữ THĂNG ở đây là nói gọn cho dễ nhớ, nói đầy đủ là THĂNG BỔ DƯƠNG KHÍ. Hẳn nhiên nó không thay thế cho tất cả các liệu pháp tương tự đã có trong y khoa (cùng mục đích), cũng như giải quyết được tất cả các trường hợp hư suy dương-khí. Nhưng nó sẽ góp phần không nhỏ trong việc trị bịnh bằng Diện chẩn - ĐKLP. Qua quá trình tìm tòi thử nghiệm và đã thành công trên thực tế trong thời gian qua, nay tôi xin trình bày như sau.
 
I/-       PHÁC ĐỒ – KỸ THUẬT TÁC ĐỘNG
            127, 50, 19, 37, 1, 73 - +, 189, 103, 300 - +, 0 - +.
            Nguyên tắc chung: theo thứ tự từ dưới lên và từ trái sang phải.
            Sức mạnh của phác đồ được sắp xếp theo thứ tự như sau:
1)                  Hơ rồi xoa dầu rồi dán cao.
2)                  Hơ, dán cao.
3)                  Hơ, xoa dầu.
4)                  Hơ thuần túy.
5)                  Châm kim nếu cần, tuy nhiên kỹ thuật này dễ gây vựng châm. Hiện nay chúng ta không còn dùng kim mà thay thế kim châm bằng kỹ thuật rung huyệt.
6)                  Day ấn bằng dầu.
7)                  Day ấn, dán cao.
8)                  Dán cao hoặc xoa dầu.
9)                  Rung huyệt hoặc day ấn bằng vaseline hoặc bất cứ một loại dầu nào khác không hại da như dầu ăn, dầu dừa, kem dưỡng da của phụ nữ…, nhằm mục đích tránh trầy da khi day quẹt.
10)              Lăn, gõ.
(Xem thêm bài “Hướng dẫn kỹ thuật sử dụng dụng cụ’’ trong sách Bài giảng).
 
II/-       TÁC DỤNG
            Bộ Thăng có những tác dụng chính sau đây:
-                    Thăng Khí, bổ khí, thăng Dương, bổ Dương. Tùy theo ý đồ mà chọn kỹ thuật thích hợp. Bổ Dương thì phải làm ấm huyệt bằng dầu, cao salonpas hay hơ ngãi cứu. Bổ Khí hay hành khí thì day không hay day có vaseline.
-                    Hành khí hành huyết nhưng hành khí mạnh hơn, rõ nét hơn.
-                    Tăng sức đề kháng về thời khí cho cơ thể.
-                    Làm ấm người toàn thân. Xua tan hàn khí nhiễm vào người.
-                    Làm hưng phấn thần kinh.
III/-     CHỦ TRỊ
            Bộ THĂNG có tác dụng hầu hết trong những bịnh chứng có gốc hàn, rõ nét nhất là do hàn tà thực. Có thể nêu một số bịnh chứng thường gặp như cảm lạnh, trúng gió lạnh, mắc mưa, viêm phế quản do lạnh (không có tác nhân hóa lý), sa nội tạng nhẹ, tự hãn v.v… Nhưng điều trị lâu dài cần nhận định đúng căn bịnh để linh động.
            Ứng dụng của bộ THĂNG rất rộng, tuy nhiên muốn dùng tốt cần có một vốn y lý cơ bản Đông y để phân biệt hàn nhiệt hư thực.
IV/-     CHỐNG CHỈ ĐỊNH
            Bộ THĂNG rất mạnh khi dùng trọn bộ, nhất là với kỹ thuật hơ nóng dán cao, xoa dầu hoặc châm kim.
            Không nên dùng bộ THĂNG trong các trường hợp sau:
-                    Bịnh nhân có thể trạng âm hư huyết kém, người gầy khô.
-                    Huyết áp cao dương chứng. Nhất là với các dạng huyết áp cao có cholesteron, có xơ mỡ động mạch.
-                    Các bịnh có nhiệt ở lý như: tiêu khát (tiểu đường), hư lao (suy nhược cơ thể nặng)…
-                    Các bịnh có nhiễm trùng vì dễ gây bội nhiễm.
-                    Các bịnh viêm loét vì dễ gây xuất huyết.
            Ba trường hợp sau có thể dùng với kỹ thuật day vaseline khi có kèm bệnh cấp do hàn. Nhưng cần xem xét theo dõi kỹ để tránh sai lầm.
 V/-      KINH NGHIỆM LÂM SÀNG
1)                  Trường hợp người bịnh vừa kém về huyết vừa suy về khí, nếu dùng trọn bộ THĂNG sẽ gây thiên lệch về khí huyết vì nó chủ thăng bổ khí. Trường hợp này nên dùng bộ BỔ ÂM HUYẾT-THĂNG thích hợp hơn (xem bài “Phục hồi chính khí”).
2)                  Cắt cơn tăng huyết áp âm chứng có các triệu chứng như sau: huyết áp tăng đột ngột mà trong lúc bình thường có thể thuộc loại thấp, toàn thân hay tứ chi hay chỉ bàn chân lạnh, đặc biệt huyết áp rất khó đo vì kim giật rất nhẹ, tiếng đập ở ống nghe rất nhỏ; dùng que dò khám thấy đau ở hai huyệt 1 và 19 mà 26 và 143 không đau; có khi cả 4 huyệt này đều không đau (xem bài “Chẩn đoán hàn nhiệt bằng huyệt Diện chẩn”). Điều trị: Dùng ngải cứu hơ và xoa dầu mỗi huyệt 3 lần.
LƯU Ý: phải hội đủ các triệu chứng kể trên, nếu không ta sẽ sai lầm lớn khi đó là một cơn cao huyết áp Dương chứng.
            Nếu tứ chi lạnh ngắt mà cả 4 huyệt đều đau thì đây là cơ địa Dương chứng mà trúng lạnh bất ngờ làm tăng thêm huyết áp, trường hợp này khó, không nên can thiệp nếu không kinh nghiệm, nên cho đi bệnh viện.
            Việc điều trị chứng cao huyết áp về lâu dài cần hiểu sinh bệnh lý để tìm ra căn bịnh. Biện pháp nêu trên chỉ là tạm thời cắt cơn mà thôi, không phải là giải pháp điều trị.
3)                  Nhức khớp: đau nhức mà không nóng đỏ, trái lại sờ tay vào khớp thấy lạnh hơn các nơi khác. Nếu bịnh nhân không bị thiếu máu quá ta có thể dùng bộ THĂNG. Kết quả nhanh và không tốn công dùng thêm các huyệt phản chiếu bộ vị khi có nhiều khớp đau.
Tuy nhiên, khi khớp bị thoái hóa thì liệu pháp này không kết quả, chỉ mang tính cắt cơn mà thôi. Không nên dùng lâu dài có hại cho khớp.
4)                  Nhức đầu mạn tính: có lúc hoàn toàn thoải mái, có lúc nhức dữ dội. Đó là lúc có lạnh xâm nhập. Dùng BỘ THĂNG để cắt cơn, điều trị lâu dài cần tìm hiểu tổng thể của bịnh nhân để điều chỉnh lại cho quân bình.
VI/-     VẤN ĐỀ ĂN UỐNG, SINH HOẠT
            Khi sử dụng bộ THĂNG cần kiêng cữ:
-                    Ăn uống: không dùng các thứ quá mát lạnh như nước đá, kem, yaourt lạnh, nước ướp lạnh, cam, nước dừa, bia, khổ qua, đậu đen, đậu xanh, rau má, thanh long, các thứ có vị chua.
-                    Sinh hoạt: cữ tắm đêm, dầm mưa, dùng quạt máy, phòng lạnh, nằm ở nền nhà không có nệm, đi chân trần trong nhà, khi ngủ nên mang vớ giữ ấm chân.
VII/-    KẾT LUẬN
            Tác dụng của bộ THĂNG rất rộng và rất mạnh. Khi áp dụng một cách máy móc dễ gây thiên lệch về âm dương khí huyết.
            Chẩn đoán kỹ về âm dương, khí huyết, hàn nhiệt, hư thực là việc cần làm trước khi bắt tay vào điều trị.
            Ước lượng tình hình, theo dõi sít sao diễn biến lâm sàng ngay tại chỗ và về sau để có giải pháp, cường độ điều trị thích hợp.
            Luôn luôn dò sinh huyệt để kiểm chứng trước và trong khi điều trị để đề phòng sai lầm. Không dùng bộ Thăng khi các huyệt 19,1,189,103 đều không là sinh huyệt (không báo đau cũng không báo nóng).
TP. Hồ Chí Minh, 08-12-1998.