In bài này

Tư liệu -20- Bộ Giáng

 Tạ Minh.

             Khái quát thì bộ Giáng có tính chất ngược lại với bộ Thăng. Tầm ứng dụng không rộng rãi như bộ Thăng và thuộc khía cạnh gần như đối lập.
Phác đồ Diện Chẩn Tạ Minh - Bộ giáng
I/-        PHÁC ĐỒ – KỸ THUẬT
124 + -, 106, 34 + -, 26, 61 + -, 3 + -, 143, 39, 14 + -, 222 + -, 85 + -, 156 + -, 87.
            Không phải lúc nào cũng dùng trọn tất cả các huyệt nêu trên. Phải dò sinh huyệt để dùng cho thích ứng với tình hình bịnh. Có khi phải tùy theo tổng trạng của bịnh nhân mà chọn lọc lại, chỉ dùng một số trong số các sinh huyệt được tìm thấy chứ không dùng tất cả các sinh huyệt.
            Dò và tác động huyệt theo thứ tự nêu trên. Đối với các huyệt kép thì tác động huyệt bên phải trước, bên trái sau (của người bịnh).
            Kỹ thuật an toàn và thích hợp nhất là dùng kỹ thuật rung huyệt, hoặc dùng lăn và que dò để ấn day hoặc quẹt vào huyệt bằng vaseline hoặc các loại dầu nhờn vô hại như dầu ăn hoặc kem dưỡng da. Cũng có thể day thật nhẹ phơn phớt không cần vaseline vào mặt da ở những người trẻ tuổi, da không quá khô.
            Nếu sốt cao nên dùng nước đá áp vào huyệt, mỗi huyệt một phút để cắt cơn sốt.
II/-       TÁC DỤNG
            Các tác dụng chính:
-                    Giáng khí: tác dụng cao trong trường hợp thực nhiệt.
-                    Hạ nhiệt: tính hạ nhiệt khá mạnh khi dùng trọn bộ.
-                    An thần: tính an thần rõ nét.
-                    Tiêu viêm: chỉ có tính hỗ trợ, vì tính tiêu viêm của nó không mạnh bằng một số phác đồ khác.
III/-     CHỦ TRỊ
            Bộ GIÁNG là phác đồ chủ lực trị các bịnh thuộc THỰC NHIỆT. Trong lãnh vực hư nhiệt thì chỉ được dùng khi cần đối phó tạm thời với triệu chứng (khó dùng vì cần vững y lý Đông y và phải kỹ lưỡng), không dùng trong điều trị lâu dài.
            Nên dùng cho các trường hợp sau: Các chứng sốt do nhiễm phải khí nóng đều cần dùng BỘ GIÁNG. Trước hết nó hạ sốt cho bịnh nhân, đề phòng chứng kinh giật do sốt cao – sau đó sẽ tìm nguyên nhân gây bịnh để điều trị tận gốc. Một số bịnh thường gặp: trúng nắng, sốt do nhiễm trùng dĩ nhiên chỉ để giảm sốt còn diệt trùng thì nên dùng kháng sinh, sốt không rõ nguyên nhân (với điều kiện chân không lạnh).
            Qua tính an thần, giáng khí, hạ nhiệt, bộ GIÁNG được dùng cắt cơn tăng Huyết áp DƯƠNG CHỨNG, với các triệu chứng sau: mạch vùng Thái dương (màng tang) nổi cộm, mạch cổ tay thuộc dạng Kiên, Hoạt, Thực, chân không lạnh, mặt mắt có thể đỏ; đo huyết áp thấy kim đồng hồ giật mạnh, tiếng ở ống nghe đập lớn, hai huyệt 26 và 15 có thể 143 rất đau. Trường hợp này nên day huyệt 15 trước khi dùng BỘ GIÁNG.
            Ngoài ra có thể dùng trong những trường hợp suyễn thực nhiệt. Trường hợp uất nhiệt bên trong tạng phủ như Vị, Tỳ, Can…v.v.. Những trường hợp mất ngủ do hưng phấn, lo lắng suy nghĩ nhiều làm mất ngủ (chỉ có giá trị khi thể trạng bịnh nhân chưa suy yếu). Những trường hợp thần kinh chức năng của một cơ quan hưng phấn gây xáo trộn sinh lý cơ quan, tạng phủ.
            Lãnh vực ứng dụng của BỘ GIÁNG khá rộng nhưng tốt nhất vẫn là dùng để trị các bịnh THỰC NHIỆT.
IV/-     CHỐNG CHỈ ĐỊNH
            Thực tế cho thấy BỘ GIÁNG chỉ có tính tả chứ không có tính bổ. Do đó không dùng bộ Giáng trong các chứng hư nhiệt (những triệu chứng nóng âm ỉ, nóng sau buổi trưa ở người bịnh suy nhược), những người bịnh mất ngủ lâu ngày, ăn uống kém, gầy yếu xanh xao.
V/-       ỨNG BIẾN LÂM SÀNG
1)                  Cắt cơn sốt bằng nước đá áp vào huyệt. Ở đây chỉ cần dùng các huyệt sau đây theo thứ tự: 26, 3, 143 hay 173, 87. Với các cục nước đá chừng bằng đầu ngón tay cái, áp mỗi huyệt chừng một phút rồi đổi sang huyệt khác cho đến khi hết sốt.
2)                  Một số trường hợp bịnh tâm thần mới phát thuộc chứng cuồng trong Đông y, các chứng trúng nắng. Nên ứng biến như sau: chỉ dùng các huyệt sau đây theo thứ tự 124 -, 106, 34 -, 26, 61 -, 3 -, 143, 39, 14 -, 222 -, 85 -, 87.
Có thể tùy nghi sử dụng các kỹ thuật áp lạnh, day bằng vaseline hoặc châm kim. Biện pháp này cũng dùng được trong trường hợp sốt cao do viêm nhiễm cấp (với điều kiện chân không lạnh).
VI/-     KẾT LUẬN
            Bộ GIÁNG hữu hiệu trong các chứng nhiệt dù ở biểu hay ở lý. Nhưng chỉ có tính TẢ CHỨ KHÔNG BỔ. Cẩn thận trong khi sử dụng để không hại nguyên khí của bịnh nhân.
TP. Hồ Chí Minh, 9-12-1998.
In bài này

Tư liệu -19- Bộ Thăng

  Tạ Minh.

             Thăng và giáng là hai thủ pháp thường gặp trong y học cổ truyền. Chữ THĂNG ở đây là nói gọn cho dễ nhớ, nói đầy đủ là THĂNG BỔ DƯƠNG KHÍ. Hẳn nhiên nó không thay thế cho tất cả các liệu pháp tương tự đã có trong y khoa (cùng mục đích), cũng như giải quyết được tất cả các trường hợp hư suy dương-khí. Nhưng nó sẽ góp phần không nhỏ trong việc trị bịnh bằng Diện chẩn - ĐKLP. Qua quá trình tìm tòi thử nghiệm và đã thành công trên thực tế trong thời gian qua, nay tôi xin trình bày như sau.
 
I/-       PHÁC ĐỒ – KỸ THUẬT TÁC ĐỘNG
            127, 50, 19, 37, 1, 73 - +, 189, 103, 300 - +, 0 - +.
            Nguyên tắc chung: theo thứ tự từ dưới lên và từ trái sang phải.
            Sức mạnh của phác đồ được sắp xếp theo thứ tự như sau:
1)                  Hơ rồi xoa dầu rồi dán cao.
2)                  Hơ, dán cao.
3)                  Hơ, xoa dầu.
4)                  Hơ thuần túy.
5)                  Châm kim nếu cần, tuy nhiên kỹ thuật này dễ gây vựng châm. Hiện nay chúng ta không còn dùng kim mà thay thế kim châm bằng kỹ thuật rung huyệt.
6)                  Day ấn bằng dầu.
7)                  Day ấn, dán cao.
8)                  Dán cao hoặc xoa dầu.
9)                  Rung huyệt hoặc day ấn bằng vaseline hoặc bất cứ một loại dầu nào khác không hại da như dầu ăn, dầu dừa, kem dưỡng da của phụ nữ…, nhằm mục đích tránh trầy da khi day quẹt.
10)              Lăn, gõ.
(Xem thêm bài “Hướng dẫn kỹ thuật sử dụng dụng cụ’’ trong sách Bài giảng).
 
II/-       TÁC DỤNG
            Bộ Thăng có những tác dụng chính sau đây:
-                    Thăng Khí, bổ khí, thăng Dương, bổ Dương. Tùy theo ý đồ mà chọn kỹ thuật thích hợp. Bổ Dương thì phải làm ấm huyệt bằng dầu, cao salonpas hay hơ ngãi cứu. Bổ Khí hay hành khí thì day không hay day có vaseline.
-                    Hành khí hành huyết nhưng hành khí mạnh hơn, rõ nét hơn.
-                    Tăng sức đề kháng về thời khí cho cơ thể.
-                    Làm ấm người toàn thân. Xua tan hàn khí nhiễm vào người.
-                    Làm hưng phấn thần kinh.
III/-     CHỦ TRỊ
            Bộ THĂNG có tác dụng hầu hết trong những bịnh chứng có gốc hàn, rõ nét nhất là do hàn tà thực. Có thể nêu một số bịnh chứng thường gặp như cảm lạnh, trúng gió lạnh, mắc mưa, viêm phế quản do lạnh (không có tác nhân hóa lý), sa nội tạng nhẹ, tự hãn v.v… Nhưng điều trị lâu dài cần nhận định đúng căn bịnh để linh động.
            Ứng dụng của bộ THĂNG rất rộng, tuy nhiên muốn dùng tốt cần có một vốn y lý cơ bản Đông y để phân biệt hàn nhiệt hư thực.
IV/-     CHỐNG CHỈ ĐỊNH
            Bộ THĂNG rất mạnh khi dùng trọn bộ, nhất là với kỹ thuật hơ nóng dán cao, xoa dầu hoặc châm kim.
            Không nên dùng bộ THĂNG trong các trường hợp sau:
-                    Bịnh nhân có thể trạng âm hư huyết kém, người gầy khô.
-                    Huyết áp cao dương chứng. Nhất là với các dạng huyết áp cao có cholesteron, có xơ mỡ động mạch.
-                    Các bịnh có nhiệt ở lý như: tiêu khát (tiểu đường), hư lao (suy nhược cơ thể nặng)…
-                    Các bịnh có nhiễm trùng vì dễ gây bội nhiễm.
-                    Các bịnh viêm loét vì dễ gây xuất huyết.
            Ba trường hợp sau có thể dùng với kỹ thuật day vaseline khi có kèm bệnh cấp do hàn. Nhưng cần xem xét theo dõi kỹ để tránh sai lầm.
 V/-      KINH NGHIỆM LÂM SÀNG
1)                  Trường hợp người bịnh vừa kém về huyết vừa suy về khí, nếu dùng trọn bộ THĂNG sẽ gây thiên lệch về khí huyết vì nó chủ thăng bổ khí. Trường hợp này nên dùng bộ BỔ ÂM HUYẾT-THĂNG thích hợp hơn (xem bài “Phục hồi chính khí”).
2)                  Cắt cơn tăng huyết áp âm chứng có các triệu chứng như sau: huyết áp tăng đột ngột mà trong lúc bình thường có thể thuộc loại thấp, toàn thân hay tứ chi hay chỉ bàn chân lạnh, đặc biệt huyết áp rất khó đo vì kim giật rất nhẹ, tiếng đập ở ống nghe rất nhỏ; dùng que dò khám thấy đau ở hai huyệt 1 và 19 mà 26 và 143 không đau; có khi cả 4 huyệt này đều không đau (xem bài “Chẩn đoán hàn nhiệt bằng huyệt Diện chẩn”). Điều trị: Dùng ngải cứu hơ và xoa dầu mỗi huyệt 3 lần.
LƯU Ý: phải hội đủ các triệu chứng kể trên, nếu không ta sẽ sai lầm lớn khi đó là một cơn cao huyết áp Dương chứng.
            Nếu tứ chi lạnh ngắt mà cả 4 huyệt đều đau thì đây là cơ địa Dương chứng mà trúng lạnh bất ngờ làm tăng thêm huyết áp, trường hợp này khó, không nên can thiệp nếu không kinh nghiệm, nên cho đi bệnh viện.
            Việc điều trị chứng cao huyết áp về lâu dài cần hiểu sinh bệnh lý để tìm ra căn bịnh. Biện pháp nêu trên chỉ là tạm thời cắt cơn mà thôi, không phải là giải pháp điều trị.
3)                  Nhức khớp: đau nhức mà không nóng đỏ, trái lại sờ tay vào khớp thấy lạnh hơn các nơi khác. Nếu bịnh nhân không bị thiếu máu quá ta có thể dùng bộ THĂNG. Kết quả nhanh và không tốn công dùng thêm các huyệt phản chiếu bộ vị khi có nhiều khớp đau.
Tuy nhiên, khi khớp bị thoái hóa thì liệu pháp này không kết quả, chỉ mang tính cắt cơn mà thôi. Không nên dùng lâu dài có hại cho khớp.
4)                  Nhức đầu mạn tính: có lúc hoàn toàn thoải mái, có lúc nhức dữ dội. Đó là lúc có lạnh xâm nhập. Dùng BỘ THĂNG để cắt cơn, điều trị lâu dài cần tìm hiểu tổng thể của bịnh nhân để điều chỉnh lại cho quân bình.
VI/-     VẤN ĐỀ ĂN UỐNG, SINH HOẠT
            Khi sử dụng bộ THĂNG cần kiêng cữ:
-                    Ăn uống: không dùng các thứ quá mát lạnh như nước đá, kem, yaourt lạnh, nước ướp lạnh, cam, nước dừa, bia, khổ qua, đậu đen, đậu xanh, rau má, thanh long, các thứ có vị chua.
-                    Sinh hoạt: cữ tắm đêm, dầm mưa, dùng quạt máy, phòng lạnh, nằm ở nền nhà không có nệm, đi chân trần trong nhà, khi ngủ nên mang vớ giữ ấm chân.
VII/-    KẾT LUẬN
            Tác dụng của bộ THĂNG rất rộng và rất mạnh. Khi áp dụng một cách máy móc dễ gây thiên lệch về âm dương khí huyết.
            Chẩn đoán kỹ về âm dương, khí huyết, hàn nhiệt, hư thực là việc cần làm trước khi bắt tay vào điều trị.
            Ước lượng tình hình, theo dõi sít sao diễn biến lâm sàng ngay tại chỗ và về sau để có giải pháp, cường độ điều trị thích hợp.
            Luôn luôn dò sinh huyệt để kiểm chứng trước và trong khi điều trị để đề phòng sai lầm. Không dùng bộ Thăng khi các huyệt 19,1,189,103 đều không là sinh huyệt (không báo đau cũng không báo nóng).
TP. Hồ Chí Minh, 08-12-1998. 
In bài này

Tư liệu -18- Phục hồi chính khí

 Lương y Tạ Minh.

             Trong Đông y, cân bằng Âm Dương và điều bổ Khí Huyết là nguyên lý của việc chữa bệnh. Vì phục hồi sự cân bằng Âm Dương và điều bổ cho khí huyết đầy đủ là phục hồi được chính khí. Trên nguyên tắc, chính khí vững mạnh thì tà khí tự lui.
            Thông thường nếu chính khí chưa bị suy yếu thì việc chữa bệnh khá đơn giản: chẩn đoán bệnh thuộc hàn hay nhiệt, tìm Sinh huyệt theo đồ hình phản chiếu hay theo luật đồng ứng rồi tác động với kỹ thuật thích hợp là đã thành công. Phức tạp hơn một chút nữa là bệnh có cơ chế khác, không chỉ là hàn hay nhiệt. Và càng phức tạp hơn khi chính khí suy yếu. Lúc này hầu hết bạn chỉ làm giãm được triệu chứng ngay tại chổ mà thôi.
            Tôi may mắn đã tìm được cách phục hồi chính khí bằng Diện Chẩn-Điều Khiển Liệu Pháp thuần túy, mà trước đây tôi thường gọi là “điều chỉnh tổng thể”, “điều chỉnh tổng trạng”. Đã thực hiện trên lâm sàng từ năm 1995 đều có những thành công tốt đẹp. Hơn 15 năm thực nghiệm, rút tỉa kinh nghiệm. Nay xin phổ biến chính thức để những ai yêu thích Diện Chẩn cũng dùng được để rút ngắn thời gian, nâng cao và duy trì hiệu quả điều trị.
            Trước hết, các bạn cần biết đo huyết áp theo kiểu của tôi, đã trình bày trong bài “Kỹ thuật đo huyết áp” và trong đĩa video “Chẩn đoán bằng huyết áp kế”. Cũng như trong Blog 360plus của tôi (vào 360plus của Yahoo Việt Nam, gõ taminhdc, các bạn sẽ tìm thấy trang blog này).
            Sau khi đã có kết luận huyết áp của bệnh nhân thuộc Dương chứng hay Âm chứng, kế tiếp là chọn vùng thích hợp (vùng có nhiệt độ đặc biệt, theo bài “Làm sao để đạt tứ đắc”) là chúng ta có thể bắt tay vào việc cân bằng Âm Dương và điều bổ Khí Huyết.
            Việc thực hiện phục hồi chính khí nêu trên theo hai vế Dương-Khí và Âm-Huyết như sau.
·                     PHỤC HỒI DƯƠNG, KHÍ: khi thấy huyết áp thuộc âm chứng thì ta biết Dương hoặc Khí bệnh nhân bị suy. Nếu bệnh nhân sợ lạnh hoặc làm việc không bền sức dù siêng năng là Dương suy. Nếu bệnh nhân không sợ lạnh, tuy uể oải lười biếng mà khi cần thì làm việc bền sức là Khí suy. Nếu các hiện tượng trên đều có là Dương và Khí đều suy.
Chọn vùng thích hợp, chọn kỹ thuật thích hợp, dùng bộ Thăng.
            Nếu Dương suy, ta làm ấm huyệt bằng một trong các kỹ thuật sau đây (có cường độ điều trị từ nhẹ đến mạnh): day có dầu, dán cao salonpas, hơ, hơ có dầu, day dầu rồi dán cao, day dầu rồi hơ và dán cao. Việc chọn cường độ cần kinh nghiệm để ước lượng, nếu chưa kinh nghiệm bạn có thể chọn cường độ nhẹ trước rồi tăng dần khi thấy không hiệu quả.
            Trường hợp này, vùng thích hợp thường là vùng lạnh nhất và thường xuất hiện ở bàn chân.
            Nếu là Khí suy, bạn chỉ day bộ Thăng. Thường sẽ là vùng ấm nhất trên cơ thể.
·                     PHỤC HỒI ÂM, HUYẾT: khi thấy huyết áp thuộc dương chứng thì ta biết Âm hoặc Huyết bệnh nhân bị suy, hoặc cả hai khía cạnh Âm và Huyết đều suy. Trường hợp này không cần chẩn đoán thêm như trên mà chỉ cần dùng bộ Bổ Âm Huyết mà thôi. Bộ Bổ Âm Huyết sẽ tự động bổ Âm hay bổ Huyết hay bổ cả hai cho cơ thể.
Nếu bàn chân lạnh, bạn cần hơ, không được bôi dầu vào huyệt. Nếu bàn chân mát, bạn day có dầu. Nếu bàn chân bình thường hay ấm bạn day không dầu.
KINH NGHIỆM LÂM SÀNG
1)                  Trong các lần điều trị sau bạn luôn cần khám nhanh lại trước khi điều trị: sờ mặt, bàn tay, bàn chân, mi mắt để xem có sự biến đổi nào. Nếu có biến đổi, bạn cần bám theo biến đổi đó để thay đổi vùng tác động, phác đồ và kỹ thuật cho thích ứng với tình hình mới. Có như vậy bạn mới thực hiện tốt việc phục hồi chính khí cho bệnh nhân.
2)                  Nếu huyết áp âm chứng mà niêm mạc mắt có lớp trong nhạt hay trắng là Dương hay Khí suy kèm Âm hay Huyết kém hoặc cả hai đều kém. Bạn phải dùng bộ Bổ Âm Huyết-Thăng như sau: 22, 127, 63M + -, 17 + -,113 + -,7 + -, 63, 50, 19, 39, 37, 40, 481, 1, 73 - +, 189, 103, 300 - +, 0 + -.
Phần còn lại trong điều trị; bạn chọn phác đồ dựa theo cơ chế bệnh như: tiêu viêm, tiêu viêm khử ứ, tiêu viêm giải độc, lọc thấp, trừ thấp hay trục thấp, an thần, bộ Thiếu dương v.v… Chọn phản chiếu hoặc đồng ứng. Chọn kỹ thuật thích hợp để trị theo cơ chế bệnh chứng bệnh nhân đang mắc phải.
            Đây chính là quy trình căn bản điều trị cần thiết vậy. Trên thực tế, có rất nhiều hiện tượng pha tạp chi tiết khó lòng trình bày cho hết. Bạn cứ ôm lấy căn bản này mà làm, các việc còn lại cơ thể sẽ tự điều chỉnh.
TP. Thái Bình, 1 giờ 22 phút, ngày 11-11-2010.
In bài này

Tư liệu -17- Hưỡng dẫn kiêng cử

 Lương y Tạ Minh.

             Kiêng cữ thực ra chỉ là tránh né những nguyên nhân gây bệnh do bên ngoài đưa tới như thức ăn uống, khí hậu thời tiết, sinh hoạt hằng ngày. Mỗi một ngày khi thức giấc, cơ thể chúng ta bắt đầu đón nhận những yếu tố mới tác động vào như nắng - mưa - gió - bão - bụi bặm - mùi hôi - khí thải……v.v.. Khi bắt đầu ăn sáng là ta đưa một số chất mới vào. Chua có, cay có, đắng - mặn - ngọt có; cái nào hạp cái nào không hạp với ta?
            Điều trị bệnh mà không kiêng cữ thì hiệu quả điều trị rất kém, nếu không muốn nói là sẽ không có kết quả. Chúng ta thấy hiện nay xu hướng của Tây y cũng đã bắt đầu chú ý đến việc khuyên bệnh nhân kiêng cữ trong khi trị bệnh. Trước đây vài mươi năm, hễ hỏi đến kiêng cữ là y như rằng bệnh nhân sẽ bị bác sĩ cự nự cho một hồi. Nào là phải ăn cho đủ dinh dưỡng, nào là đã bệnh mà còn cữ ăn thì làm sao khỏe mà trị bệnh được…vv..!!! Quả thật thì Đông y bắt bệnh nhân cữ ăn hơi nhiều. Có nơi thấy bảng dặn dò kiêng cữ ăn uống của bệnh nhân có đến vài chục món. Có lẽ việc này xảy ra là do bệnh nhân uống thuốc Đông y, luôn có sự tương tác qua lại giữa thuốc và thức ăn. Vì thực chất thuốc Đông y đều có nguồn gốc thực vật hay động vật, là một dạng thức ăn hơi đặc biệt vậy thôi.
            Nếu chỉ dùng huyệt để trị bệnh thì chúng ta không sợ những tương tác như đã nói mà chỉ cần kiêng cữ những tác nhân gây bệnh mà thôi. Đó là một trong những ưu điểm của phương pháp trị bệnh không dùng thuốc. Vừa an toàn vừa đơn giản.
            Trong quá trình hành nghề và nghiên cứu chọn lọc tôi nhận thấy chỉ cần kiêng cữ theo các nguyên tắc:
1)                  Điều kiện môi trường không thích hợp: nóng - lạnh, ẩm - khô, trong sạch hay bụi bặm.
2)                  Điều kiện làm việc: thay đổi công việc hay ít ra cũng cải thiện thói quen trong làm việc đối với các bệnh do nghề nghiệp gây ra.
3)                  Thức ăn, uống: nếu kiêng cữ như Đông y lâu nay tuân theo ta sẽ có một danh sách rất dài, thậm chí hầu như không còn gì để ăn ngoài mễ cốc (gạo, lúa mì…)!! Bệnh nhân sẽ dễ rơi vào tình trạng suy dinh dưỡng. Do đó tôi chỉ chú trọng vào những món trực tiếp gây bệnh một cách mạnh mẽ cho cơ thể mà thôi. Gồm các nhóm chính.
·                     Nhóm gây lạnh cho cơ thể trong những bệnh do lạnh: thức ăn uống ướp lạnh, các món có vị đắng mạnh như khổ qua, rau má, tim sen, rau ngổ, rau đắng…… Các món quá mát như cam, dừa, thanh long, rau đay, bồ ngót……
·                     Nhóm gây nóng ráo cho cơ thể: các món ăn chiên, các thức có vị cay nồng như tiêu, ớt, tỏi, gừng…… Các món cung cấp năng lượng nhiều như chocolate, cacao, các loại kẹo bánh có dùng đường……
·                     Nhóm gây co cân - cơ: các chất có vị chua đậm như chanh, cam, thơm (dứa)…… các chất làm lạnh cơ thể.
·                     Nhóm gây trì trệ: hầu hết các món có chất nhờn đều gây trì trệ ứ đọng cho cơ thể như đậu bắp, rau đay, mồng tơi, khoai mỡ…… và các chất làm hạ nhiệt.
·                     Nhóm gây viêm: hiện nay tôi chỉ phát hiện ra hai món gây viêm rất mạnh (trên cơ thể vốn bị viêm): thịt gà và các loại mắm như mắm tôm, mắm ruốc, mắm sặc, mắm thái… (nước mắm thì vô hại, có lẽ vì độ mặn cao và quá trình lên men đã hoàn chỉnh nên không có độc - hay ít độc??).
·                     Nhóm có chất hóa học phát sinh: tất cả các món trải qua quá trình lên men sinh học (khác với lên men công nghiệp như xì dầu, magie): như chao, tương, bánh mì, rượu, bia…… LƯU Ý: các loại này đôi khi đã nấu chín vẫn không phân hóa được các hóa chất trong nó nên vẫn gây bệnh cho cơ thể khi dùng.
Nói chung khi bệnh có liên quan tới gan (Can) và tụy (Tỳ) thì cần kiêng cữ khá nhiều, nghiêng về hướng chất gây viêm và chất có hóa chất lạ, vì gan và tụy là bộ máy chính trong xử lý hóa chất của cơ thể (Can chủ sơ tiết, mưu lự – Tỳ chủ hóa), dĩ nhiên ở tế bào cũng có những quy trình xử lý hóa chất nhỏ riêng. Với Gan ta còn cần kiêng cữ thêm thịt bò, cá biển độc như cá ngừ, cá chuồn, cá nhám, cá nục… còn các loại cá hiền thì dùng được như cá chim, cá thu, cá bạc má… Với Tụy ta còn cần kiêng cữ thêm các chất gây lạnh.
            Còn các loại bệnh chứng liên quan ta cứ theo bảng hướng dẫn nêu trên mà khuyên bệnh nhân kiêng cữ.
            Theo triệu chứng ta có:
·                     Chứng đau nhức: cữ nhóm gây lạnh, gây co cân cơ.
·                     Chứng viêm (sưng + nóng + đỏ + đau), chấn thương: cữ nhóm gây viêm và nhóm gây co cân cơ, nhóm gây lạnh (nếu bệnh thuộc hàn), nếu là bệnh thuộc nhiệt thì ngược lại cần cữ nhóm gây nóng.
·                     Chứng ứ trệ, sưng nề (không nóng đỏ): cữ nhóm gây trì trệ, nhóm gây co cân cơ, nhóm gây lạnh (vì lạnh cũng là một nguyên nhân gây trì trệ cho cơ thể).
·                     Chứng có nhiễm trùng hay viêm do nhiệt: viêm do nhiễm trùng hay do nhiệt đều gây ra triệu chứng đau nhức. Thật ra trong Đông y thì phân chia khá rõ: đau thì do nhiệt, nhức là do hàn, nhưng hầu hết bệnh nhân không thể phân biệt được hai triệu chứng này mà họ thường gộp chung hoặc nói lẫn lộn. Loại này cần cữ các món gây nóng ráo, nhóm gây viêm.
·                     Các chứng có tính dị ứng, các loại bệnh ngoài da: nhóm có hóa chất phát sinh.
Như vậy ta có một đường lối kiêng cữ khá linh động vì theo gốc bệnh chứ không theo tên bệnh. Đo đó dễ nhớ để dặn dò bệnh nhân.
TP. Hồ Chí Minh, 12 – 6 – 2002.
In bài này

Tư liệu -16- Làm sao để đạt tứ đắc

 Tạ Minh.

Mạc Tư Khoa, 1992.
 
            Dò tìm sinh huyệt rồi tác động vào sinh huyệt là việc chúng ta đã biết và đã từng làm. Nhưng dò tìm sinh huyệt ở đâu, tác động như thế nào, bao nhiêu lâu để có thể đạt được TỨ ĐẮC (đắc thời, đắc vị, đắc pháp, đắc độ)? Bởi khuôn mặt đã là khó dò, rồi lại còn bàn tay, bàn chân, lưng, bụng, đầu, vành tai!!! Làm sao mà dò cho nổi… phải không các bạn?
            Nay, tôi xin đóng góp một tâm đắc sau một thời gian dài nghiên cứu và thử nghiệm thấy rất tốt. Mong rằng những kinh nghiệm này sẽ giúp các bạn vững tâm và vững tay hơn trong việc sử dụng DC-ĐKLP.
            Nguyên, đầu năm 1992 tôi sang Matxcơva làm việc theo lời mời của họ và theo đề cử của thầy Châu. Lúc ấy đang là mùa đông, lại là xứ lạnh, hầu hết các trường hợp đều phải dùng ngải cứu để điều trị, hiệu quả tốt. Nhưng có một số trường hợp hơ mặt không có kết quả, thậm chí có lúc lại xấu hơn, mặc dù về chẩn đoán rõ ràng là thực hàn. Tôi rất ngạc nhiên. Trước đó, ở Việt Nam thỉnh thoảng cũng có gặp, nhưng rất ít khi và chưa tìm ra giải pháp tốt. Một phần do áp lực bịnh nhân quá đông không rảnh để nghiên cứu cho ra vấn đề. Mặt khác phương pháp chỉ mới bắt đầu triển khai ra toàn thân, lại không có giường nằm cho bịnh nhân. Cho nên việc áp dụng các hệ thống phản chiếu ngoài bộ mặt chưa được triệt để như hiện nay.
            Ở Matxcơva, đủ điều kiện, nên tôi quyết tâm nghiên cứu hiện tượng này. Tôi phát hiện ra nhiệt độ các vùng cơ thể của trên cùng một bịnh nhân không giống nhau. Từ nhận xét này, tôi chuyên tâm tìm những vùng có nhiệt độ bất hợp lý nhất trên cơ thể bịnh nhân làm nơi chẩn đoán và điều trị. Từ đó hiệu quả điều trị được nâng cao hẳn vì nhanh hơn và chính xác hơn trước. Ngoại trừ các trường hợp sốt cao làm rối loạn sinh lý huyệt như đã trình bày. Hoặc một số trường hợp lạnh toàn thân vì một cơn đau kịch phát.
            Thế là vấn nạn “Làm sao để đạt tứ đắc” đã được giải.
I/-        VẤN ĐỀ ĐẮC VỊ, ĐẮC THỜI?
            Hai yếu tố đầu tiên là ĐẮC THỜI, ĐẮC VỊ sẽ đến cùng lúc khi ta tìm được vùng chẩn trị có sinh huyệt nằm trong đó. Đó là nơi lạnh nhất hay nóng nhất trong cơ thể bịnh nhân trong khi các nơi khác có nhiệt độ bình thường. Thí dụ: Các nơi đều ấm riêng bàn chân lại lạnh thì bàn chân là nơi khám và trị bằng ngải cứu. Các nơi đều mát mà mặt lại nóng thì mặt là nơi dò và trị bệnh bằng que dò.
II/-       VẤN ĐỀ ĐẮC PHÁP?
            Ta cũng biết, hễ bịnh nhân nóng thì giải nhiệt, bịnh nhân lạnh thì làm cho ấm, hễ đau tay thì chữa tay nhưng nếu đau tay do thiếu máu cơ tim thì chữa bệnh cho tim chứ không phải chữa cho tay; nhức đầu thì chữa đầu nhưng nhức đầu do táo bón thì lại chữa vào đại tràng chứ không chữa cho đầu v.v… Đó chính là đắc pháp, chứ không phải chỉ chọn dụng cụ là đã đắc pháp. Dĩ nhiên khi đã định được “pháp” rồi thì việc chọn dụng cụ kỹ thuật thích hợp là việc phải làm để phát huy tối đa sự ĐẮC PHÁP.
III/-     VẤN ĐỀ ĐẮC ĐỘ?
            Bịnh có nặng có nhẹ, có đơn giản có phức tạp. Thể trạng bịnh nhân có khoẻ có yếu, có nhạy cảm có chậm đáp ứng. Mỗi trường hợp, mỗi thời điểm đều chẳng giống nhau. Các kỹ thuật với các mức độ đề ra như hơ nóng 3 lần, day lăn vài phút v.v… dù sao cũng chỉ gợi ý bình quân. Muốn đạt được yếu tố ĐẮC ĐỘ chúng ta phải chú ý thật kỹ các triệu chứng, diễn biến trên thực tế lâm sàng ngay trong lúc đang thao tác điều trị. Đồng thời vẫn tiếp tục khảo sát các diễn biến kế tiếp. Muốn vậy chúng ta cần ghi chép bịnh án đầy đủ. Từ đó chúng ta mới có thể suy ra và phán đoán mức độ tác động thích hợp cho mỗi lần điều trị. Nếu không rất dễ làm quá lố hoặc không đủ.
            Muốn đạt được cao hai yếu tố PHÁP và ĐỘ chúng ta không thể không nghiên cứu sinh lý bệnh lý Đông và Tây y để làm nền tảng trong phán đoán bệnh chứng. Riêng yếu tố ĐẮC ĐỘ thì cần kinh nghiệm riêng có được sau một thời gian thực hành nhiều, điều này khó truyền đạt.
            Tôi vừa trình bày xong phương cách để đạt TỨ ĐẮC. Tuy không có gì bí hiểm nhưng muốn làm được chúng ta cần rèn luyện như mọi vấn đề khác. Mong các bạn thành công.